Bài viết

LƯỢT TRUY CẬP

  • Đang truy cập: 5
  • Lượt truy cập hôm nay: 39
  • Lượt truy cập hôm qua: 119
  • Tất cả lượt truy cập: 915

981 số định mệnh của nhà cầm quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa

“Từ ngày 1-5-2014 Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn khoan nước sâu cùng hơn 80 tàu vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào vùng biển Việt Nam và đã hạ đặt giàn khoan này tại vị trí nằm sâu trên 80 hải lý trong Thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam”.

981

Vì đâu Nhà cầm quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (NCQ CHNDTH) đại diện cho một quốc gia đang vươn lên cường quốc uy tín lớn lao (ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (UVTT HĐBALHQ) lại chôn danh dự của mình với một hành xử nhỏ nhen, ngang ngược như vậy?

Thời gian qua nhiều học giả, sách báo đã phân tích đầy đủ những chứng lý mọi mặt. Bài nầy chúng tôi muốn nêu ra khía cạnh căn bản thâm thúy khác hơn, chính nó tạo ra một chuỗi những chủ trương và việc làm dốt nát của NCQ CHNDTH:

I.- THIẾU HIỂU BIẾT TRONG CHỌN QUỐC HIỆU, QUỐC KỲ, QUỐC CA TẠO NÊN NHỮNG TỒI TỆ MỌI MẶT

1/- Quốc hiệu: 

Quốc hiệu nói lên tính chất và khí thế của Quốc gia, được ứng hiện bởi Thiên Nhân cách bao gồm 2 yếu tố là Nhân cách (Ý nghĩa của tên) và Thiên cách (Vận số) (*(xem chú thích cuối bài viết). Tự thân mỗi mặt phải sáng đẹp, giữa hai mặt phải hài hòa, dung hòa, bổ sung nhau, chi phối lẫn nhau, ngược lại tự thân không tốt, hoặc giữa hai mặt đối lập thì khắc chế sinh bịnh hoạn, suy bại.

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (共和人民中華 6+8+2+5+4+11=36)

a)- Nhân cách (ý nghĩa tên): Nước đứng giữa vinh hoa; hòa hợp cùng cộng đồng nhân dân. 

b)- Thiên cách: Số 36 PHONG LÃNH BẤT TỈNH (Bão tố lạnh lùng không yên).

Trước mặt là con đường mờ mịt, trở lại thì không ổn vì phong ba dấy khởi ngập trời giông tố không tìm ra lối thoát. Số cô độc, bịnh tật, bị thương, tàn phế. Họ hàng nghèo hèn, ly tán.

Khác biệt giữa 2 yếu tố tạo nên sự đối lập toàn diện, rõ nhất là sự đối lập giữa 2 cặp:

Hòa hợp và Ly tán cô độc, bịnh tật, bị thương, tàn phế.

Vinh hoa và nghèo hèn, ngập trời giông tố không tìm ra lối thoát.

Quốc hiệu (Nhân cách: yếu tố thể hiện ra bên ngoài) phô trương sự hòa hợp; mà Thiên cách: (yếu tố bên trong) là ly tán khắc hại nặng nề, trong ngoài trái ngược nhau định hình nên tính cách dối gian, nói và làm không đi đôi của họ, “Cộng Hòa” Nhân Dân mà “Đối Lập” với Nhân Dân; cuộc “Đại cách mạng văn hóa” là một chuỗi những máu và nước mắt của nhân dân; Hồng vệ binh đập phá, giết người không gớm tay.

Còn đối ngoại miệng nói hòa bình mà hành động thì xâm lấn lãnh thổ nước khác bất chấp dư luận và công ước quốc tế; “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn” ngược lại hoàn toàn với lời nói tôn trọng chủ quyền các quốc gia.

Về hành động bành trướng thì rõ nhứt là năm 1979 họ gây chiến tranh biên giới với tuyên bố “Dạy cho Việt nam một bài học”, nhưng ngược lại là ngập trời giông tố không tìm ra lối thoát, thành ra họ “học chớ không phải dạy”. Và thực trạng ở Hoàng Sa hiện nay là một sự “tiến thoái lưỡng nan” không chỉ nhân dân nước Việt mà toàn cầu đều lên án, UVTT HĐBALHQ mà đi “phá hoại an ninh”, danh dự của họ đang chìm tận đáy Biển Đông.

Sự bất nhất trong tính cách của chế độ cũng đã tác động đến nền kinh tế, hàng hóa của họ đang bị nhân loại tẩy chay… bởi thực phẩm, thuốc trị bịnh, đồ chơi trẻ em… cũng chứa chất độc hại, trái ngược với tính chất của hàng hóa ấy. Họ đang bế tắc mọi mặt “không tìm ra lối thoát”.

2/- Quốc kỳ:

CoTQ

Quốc kỳ là biểu tượng cho tính chất và ý chí của một quốc gia.

Họ chọn Biểu tượng là 1 ngôi sao lớn, vòng bên là 4 ngôi sao nhỏ biểu thị họ là nước lớn xung quanh là các nước nhỏ (như chữ Trung Hoa: đứng chính giữa vinh hoa), ấy chính là tư tưởng bá quyền bành trướng. “Chòm sao” ở bên góc lá cờ là việc xưng hùng chỉ ở một góc Trời, không vươn ra toàn cầu được.

3/- Quốc ca: Bài “Nghĩa dũng quân tiến hành khúc”:

- Âm điệu của bài ca thể hiện sự thúc quân xông vào trận mạc một cách hung hãn, táo tợn bất chấp hậu quả của kẻ hiếu chiến, chớ không có nét gì về sự thiêng liêng của một bài Quốc ca.

Lời ca:

Khởi lai! Bất nguyện tố nô đãi đích nhân môn!

Bả ngã môn đích huyết nhục, trúc thành ngã môn tân đích trường thành!

Trung hoa dân tộc đáo liễu tối nguy hiểm đích thời hậu.

Mỗi cá nhân bí bách khán phát xuất tối hậu đích hống thanh.

Khởi lai! Khởi lai! Khởi lai!

Ngã môn vạn chúng nhất tâm,
Mạo khán địch nhân đích pháo hoả, tiền tiến!
Mạo khán địch nhân đích pháo hoả, tiền tiến!
Tiền tiến! Tiền tiến! Tiến!

 

Bản dịch:

Đứng lên! Những người không muốn làm nô lệ!

Với máu thịt chúng ta, hãy cùng nhau xây dựng Trường Thành mới!
Dân tộc Trung Hoa đã đến lúc hiểm nguy,
Mỗi người hãy cất lên tiếng thét.
Đứng lên! Đứng lên! Đứng lên!
Chúng ta muôn người như một,
Bất chấp đạn lửa quân thù, tiến lên! 
Bất chấp đạn lửa quân thù, tiến lên!
Tiến lên! Tiến lên! Tiến!

Sự thét gào một cách hung hãn, nhưng nó cũng hàm chứa tiếng thét tuyệt vọng của kẻ “đã đến lúc hiểm nguy!”.

Tóm tắt:

- Quốc Hiệu: Ý nghĩa cùng cách số thể hiện sự đối lập xâu xé nhau; bất nhất giữa lời nói việc làm…

- Quốc Kỳ là tư tưởng nước lớn, bành trướng, phô trương, táo tợn bất chấp dư luận. 

- Quốc Ca biểu hiện sự hung hãn thiếu đạo lý, gào thét tuyệt vọng.

- Quốc hiệu + Quốc ca cùng biểu hiện sự nhục nhã, suy bại, không tìm ra lối thoát, gào thét tuyệt vọng.

Song song với Quốc hiệu CHNDTH Thiên cách số 36 nói trên, nó còn chứa đựng bên trong chữ Trung Hoa: Ý nghĩa (Nhân cách): Nước đứng giữa vinh hoa, Thiên cách là: Số 15 (中華 4+11=15):

Số 15 : PHƯỚC THỌ CỦNG CHIẾU (Thọ lãnh phúc đức trên củng chiếu)

Được người trên bước nâng đỡ, nên thân thế thành đại sự nghiệp, nắm lấy sự thành công phú quí vinh đạt, số nầy ít có người được như vậy. Số nầy là biểu tượng của phúc thọ viên mãn. Được người trên cất nhắc, tự thành nghiệp lớn, là cát số của phú quý vinh hoa.

Với Thiên cách ấy họ không nghèo, tuy dưới thời “Đại cách mạng văn hóa”, “Đại nhảy vọt” một sự phá hoại ghê gớm, làm cho đất nước suy tàn, đen tối; nhưng sau đổi mới thì về kinh tế họ vươn lên thứ 2 toàn cầu.

Thế nhưng danh hiệu Trung Hoa cũng không toàn mỹ. Bởi đứng giữa vinh hoa có nghĩa coi khinh xung quanh là nghèo hèn, ví như trọng vinh, trọng phú thì bên trong là khinh bần khinh nhục, cũng là nội ngoại bất hòa, nói làm không đi đôi, tư tưởng nước lớn đè nén nước nhỏ, xâm lược bành trướng. Lịch sử nước Trung hoa bao đời vua chúa trước nay cũng đầy tham vọng xâm lăng các nước láng giềng như nhà Nam Hán, nhà Minh, nhà Thanh… và hung bạo thất đức như Trụ vương, Tần Thủy Hoàng… Do đó khi quy hoạch mới cũng không thể dùng tên Trung Hoa được. 

Nay với Quốc hiệu: CHNDTH, và Quốc kỳ, Quốc ca bất đáng như trên, Nhân cách của họ thành là “nước lớn đứng giữa vinh hoa chi phối các nước nhược tiểu, yếu hèn xung quanh; sự hung hăng bành trướng càng táo trợn hung bạo hơn; như giật giây bọn Khơ me đỏ diệt chủng ở Kampuchea, và gây chiến tranh tàn phá khốc liệt biên giới phía bắc nước Việt năm 1979; và nay sự xâm chiếm Biển Đông là hệ quả của cái Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc ca đầy hung hãn ấy.

Tham vọng mạnh mẽ, không trung thực, và dốt nát, vô đạo đức trở thành là bản chất. Chủ trương và hành động sai trái của họ có tính hệ thống thể hiện qua 10 việc làm mông muội trước nay, để lại trong ký ức nhân loại nói chung, người dân Trung Hoa nói riêng vết nhơ ngàn đời không gột rửa được (xin xem thêm bài 10 việc làm mông muội của NCQ CHNDTH có link trong chú thích cuối bài viết).

Bản chất xấu xa ấy của chế độ được kết tụ nơi người lãnh đạo chóp bu sau cùng: ông Tập Cận Bình.

———–

Trích Từ điển:

Trong 10 chữ Tập chỉ 1 chữ là họ:

Tập 戢 13 Giấu cất. Phục kích. Nghỉ. Cấm. Dập tắt. Họ.

Cận 槿 15 Cây dâm bụt.

Bình 栟 10 Tên một loại cây (cây lục bình: một loại tre).

(Hai chữ: Cận 槿 và Bình 栟 ứng nhau bởi cùng bộ Mộc 木)

———–

Tập Cận Bình (戢槿栟 – 13+15+10=38)

- Nhân cách (Ý nghĩa tên): Chui trốn, phục kích (nơi buội tre, lùm dâm bụt)!

Tên một người mà là 2 loại cây khác nhau cạnh tranh ganh tỵ nhau, người khó tánh, thất đức, tán hậu. Ví dụ:  

Quang Minh là 2 cái sáng ở chung sẽ diệt 1, như đốt đèn giữa trưa cái đèn sẽ không sáng, mà còn làm giảm tác dụng ánh sáng mặt trời trong phạm vi ảnh hưởng của đèn.

Chui trốn, và rình rập, khi có cơ hội thì xông ra hành sự; rồi lại ẩn mình, không hoàn toàn xuất đầu lộ diện.

Trang web giaoduc.net.vn cũng từng nói: "Tập Cận Bình … giấu mình chờ thời lâu nay, giờ chủ động ra tay ở Biển Đông và biển Hoa Đông". 

Hiếu chiến, hung hãn, nhưng yếu hèn trốn tránh dư luận, không dám đối mặt với sự thật; tuyên bố “chỉ giải quyết song phương các tranh chấp trên Biển Đông” nhưng lại từ chối tiếp xúc trực tiếp nhau.

Ông ta đã thẳng thừng từ chối tiếp xúc với TBT ĐCSVN, trong khi đó quân TQ dùng nhiều thủ đoạn như vừa phun nước, va quẹt vào tàu nước Việt, vừa cho 2 tàu của mình chạy song song tự phun nước vào nhau, tự làm hư tàu mình để vu khống ngược, hòng che giấu hành động ấy của chúng.

- Thiên Số 38 : Ý CHÍ – BẤT  THÀNH (Có chí nhưng không thành công)

Đừng mong gặp thành công lớn, vì không đủ năng lực đi đến đích. Số kiên trì nhẫn nại, nhưng thiếu tài chỉ huy, chỉ thành tựu về văn chương, sách báo (nói giỏi hơn làm). Biểu hiện ra là kẻ bất tài.

Kinh dịch nói: “Đức mỏng ngôi cao, trí nhỏ mà mưu việc lớnsức yếu mà gánh vác việc nặng khó mà thành côngLại còn nguy đến bản thân, luôn cả cho xã hội và xung quanh là khác” (144D).

Có tài mà thiếu đức có thể có thành công một lúc nào đó rồi sau cùng thất bại như Hitler, Trụ Vương, Tần Thủy Hoàng…; còn kém cả đức lẫn tài mà hung hăng như Tập Cận Bình thì chắc chắn ra quân là bại vong ngay.

981 con số định mệnh:

Theo Kinh dịch thì số lẻ là dương: “1,3,5,7,9 dương số”, số chẵn “2,4,6,8,10 âm số” (73 D); trong dương số thì 1, 3 (số nhỏ) là thiếu dương (dương căn tụ vào trong), số sinh hóa của Trời Đất. Số 7, 9 là lão dương tán ra ngoài là triệu chứng của sự phân tán, suy tàn (73 D). Đặc biệt trong đó số 5 là trung tâm của sự sinh hóa; số 9 là chí cực dương (dương cực âm sinh) là cùng hung cực ác.

Thiên cách của số 9 làHUNG TẬN CHUNG THỦY (Hung họa đến tận cùng)

Số nầy trước tốt sau xấu, nếu phạm phải thì gánh lấy tai ương, gặp toàn bất hạnh”.

Hai số 9 gặp nhau càng hung hãn hơn, như ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, (9/9) gọi là ngày trùng cửu là ngày tai họa trùng trùng.

981 = 9/(8+1=9) = 9/9 là con số trùng cửu hung hãn ấy. Năm 2014 nhuần hai tháng 9 cũng là số 9/9, năm trùng cửu, vậy 981 = 9/(8+1=9) = 9/9 trong năm 2014 là trùng trùng cửu, nếu thêm số 9 nữa sẽ là trùng trùng trùng cửu; tai họa trùng trùng.

Họ đang đưa thêm giàn khoan Nam Hải 9 vào Biển Đông. Nam Hải 9 cũng vẫy đầy nhược điểm không khác gì 981:

- Số 9 Hung tận chung thủy (trên đã nói), nó còn mang những nhược điểm khác của từ Nam Hải.

Nhân cách: Nam Hải: Biển phía Nam.

Trên hành tinh chỉ có Nam Đại Dương, hay Đại dương Nam (**) chớ không có biển nào gọi là Nam Hải; chỉ 1 phần Thái Bình Dương giáp với Châu Á gọi là Biển Đông (vùng biển phía đông hành tinh), họ gọi Nam Hải (biến Đông Hải ra là Nam Hải: thành là biển phía nam của Trung Hoa) chính là xem phần ấy là của họ, và nó được cụ thể hóa bởi đường 9 đoạn, nay là 10 đoạn. Đấy lộ rõ tham vọng bành trướng vậy.            

Thiên số: Nam Hải (南海9+10=19) cùng Thiên số với Hải Dương (海洋10+9=19):

Số 19 : PHONG VÂN TUẾ NGUYỆT (Gió mây trăng sao).

Phải được giúp đỡ mới đạt thành chí nguyện, có thể là phú ông, song khó tránh chết yểu cô quả, hình ngục. Gia đình Bất hòa, thù nghịch, ly tán. Bịnh hoạn, hình ngục, chết sớm (chết không lành).

Tổng Công ty Hải Dương được chính quyền nâng đỡ, làm ăn giàu thịnh, nhưng sau sẽ bại vong. Nhân cách của Hải Dương (Hải và Dương đều là biển: hai từ cùng nghĩa ở chung cạnh tranh nhau) định nên Sản phẩm của họ có sự cạnh tranh gay gắt, từ chỗ là công ty làm kinh tế mà biến nó thành phục vụ mưu đồ xâm lấn; và Nam Hải nhân cách cũng là tham vọng lãnh hải, cả 2 cùng trong quỹ đạo kết cục chung số phận yểu vong.

Không chỉ ở Hoàng Sa, mà mưu đồ của Nhà cầm quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là toàn bộđường lưỡi bò (đường 9 đoạn), trong đó giàn khoan 981 là khởi điểm.

Vạn sự khởi đầu nan: Ngày xuất chinh ắt cũng có các Quân sư chọn!

Ngày 1/5 Dương Lịch nhằm 3/4 Âm lịch (chưa lập Hạ nên vẫn tính là tháng 3 Âm lịch) Nhâm Thân Sao Khuê Trực Định.

Chọn ngày phải dựa vào 2 nhóm sao là: Nhóm sao trong Thái dương hệ như Thiên đức, Nguyệt đức, Thiên hoàng, Đia hoàng…, và nhóm sao ngoài Thái dương hệ như Nhị thập bát tú…

Họ cũng dựa vào hai nhóm sao và lấy yếu tố tốt (theo Đổng Công soạn: sách của Trung Hoa) ngày nầy là:

- Nhâm Thân hữu Thiên đức, Nguyệt đức, Huỳnh la, Tử đàng, Thiên hoàng, Địa hoàng, Kim ngân, Khố lầu tinh cái chiếu, toàn đại kiết, đại lợi…

- Sao Khuê: Khuê tinh tạo tác đắc trinh tường. Trên dưới thuận hòa đặng cát xương….

Nhưng họ chỉ hiểu thiển cận có giới hạn vậy, không biết mà bỏ qua 2 yếu tố trực tiếp quyết định sự bại vong việc làm của họ:

- Tháng 3 Thân nhựt vãng vong xuất hành, xuất quân “phá nhậm bất thủ dã” (họ xuất hành, xuất quân là: phá việc làm, kẻ chỉ huy sẽ thành là tướng không đầu). 

- Sao Khuê: ……… Khai môn phóng thủy nhá tai ương (dở cửa khai mương họa chẳng lường).

Họ mở đường vào Biển Đông vừa là khai môn cũng là phóng thủy sẽ “họa chẳng lường”.

Với Quốc hiệu “Trước mắt là con đường mờ mịt… ngập trời giông tố không tìm ra lối thoát”, Quốc ca “hãy cất lên tiếng thét…đã đến lúc hiểm nguy…”, số hiệu các giàn khoan Hung tận chung thủy và “trùng cửu”, ngày phát khởi “họa chẳng lường”, “phá nhậm bất thủ dả”. Cuộc lấn chiếm Biển Đông lại do kẻ lãnh đạo chặng cuối “Đức mỏng … trí nhỏ” thì bại vong là tất yếu. Đó là Thiên định vậy. 

Không chỉ các giàn khoan bại vong, mà NCQ CHNDTH cũng sẽ theo đó.

Tiên tri điều nầy Bạch Vân thi sấm (***của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm có nói:

410.Cửu cửu Kiền Khôn dĩ định

411.Thanh minh thời tiết Hoa tàn.

412. Trực đáo dương đầu mã vĩ

413. Hồ binh bát vạn nhập trường an.

Giải ý:

- Hai câu 410,411: 9/9 (cửu cửu) là số Thiên định của Thanh minh thời tiết Hoa tàn.

- Hai câu 412,413: Làm thất bại cuộc xấm lấn của NCQ CHNDTH là 1 trong những thắng lợi vĩ đại nhất của Dân tộc; năm 2014-2015 (dương đầu mã vĩ) niềm vui sẽ tưng bừng như trở lại khí thế của đoàn quân Giải phóng về chiếm thủ đô năm 1954-1955 (trực đáo dương đầu mã vĩ).

Và không phải chỉ Dân tộc tự tạo ra, mà người dân Trung Hoa có vai trò quan trọng trong đó; điều nầy cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:

418. Dục thức thánh nhân hương

419. Quá kiều cư bắc phương

420. Danh vị Nguyễn gia tử

421. Kim tich sanh ngưu lang.

Giải ý:

Trung Quốc là Đất Thánh, bởi vì đó là nơi sinh Kinh Dịch, và sinh Khổng Tử mà triết học đã có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tinh thần của nhân loại. Nhưng NCQ CHNDTH phá hủy cả.

Chương trình của ông Nguyễn sẽ đánh thức tinh thần người Trung Hoa; để họ là người đào mồ chôn sâu lòng trâu chó tham vọng lãnh thổ của NCQ CHNDTH.

Bảo vệ lãnh thổ tất nhiên là do chính tinh thần và ý chí của Dân tộc ta, nhưng triệt phá triệt để mưu đồ xâm lấn của NCQ CHNDTH còn có sự kết hợp vi diệu giữa chương trình ông Nguyễn và sự thức tĩnh để hành động của chính người dân Trung Hoa.

Do vậy trong khi kiên quyết chống lại mưu đồ xâm lấn lãnh thể xấu xa của NCQ CHNDTH chúng ta cần trân trọng vun đấp cho tình hữu nghị tốt đẹp giữa 2 Dân tộc: Người Trung Hoa đã giúp ta trong chống xâm lược giữ vững bờ cõi, nhứt là trong 2 cuộc kháng chiến gần đây mà mọi người đều biết.

Đặc biệt là quan hệ văn hóa: Chữ Hán từ xa xưa đến nay luôn là nét son gắn bó giữa 2 Dân tộc; nếu thời cổ xưa chữ Nho, Nho giáo luôn là đạo đức sáng ngời của Dân tộc Việt, thì ngày nay chữ Hán nguyên thể và chữ Việt, cùng một thứ chữ nữa sẽ làm cái kiềng ba chân cho nền văn minh chói lọi của nhân loại trong tương lai gần.

Hoa kiều khắp nơi trên hành tinh, cùng người Hoa chính nước Trung hoa hãy sớm nhận ra chính lý của cục diện, vững tin vào sự linh thiêng của Trời Đất để có quan điểm và cách hành xử chính đáng.

Quan hệ giữa hai Dân tộc Hoa Việt sẽ có dịp tỏa sáng hơn bao giờ hết để diệt tận gốc mưu đồ xâm lược xấu xa của NCQ CHNDTH. Xóa bỏ tham vọng của NCQ CHNDTH mà tình hữu nghị 2 Dân tộc càng sâu đẹp là cái tuyệt đỉnh cao đẹp của Thiên cơ hàm chứa trong lời sấm đầy đạo lý của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm vậy.

——————–

Chú thích:

(*Thiên Nhân cách là 1 trong 5 mối liên hệ thâm thúy của Vũ trụ ứng chiếu vào mỗi người và vật tồn tại trên Trái Đất; nó bao hàm 2 yếu tố là Nhân cách: tính cách của nhân vật, thể hiện qua tổng hợp ý nghĩa các từ vựng của danh xưng; và Thiên cách: vận số Thiên định xác định bởi số nét chữ Hán của danh xưng. Tự thân mỗi mặt phải sáng đẹp, giữa hai mặt phải hài hòa, bổ sung, dung hòa nhau, chi phối lẫn nhau, ngược lại tự thân không tốt, hoặc giữa hai mặt đối lập thì khắc chế sinh bịnh hoạn, suy bại. Đây là quy luật thâm thúy của vũ trụ, nhân loại chưa từng biết; đến cơ nay mới chính thức được công khai. Quý độc giả có thể xem thêm bài viết “Xem tên, phong thủy” cùng trong website nầy.

(**Nam Đại Dương, hay Đại dương Nam mới thành lập Năm 2000, do Tổ chức Thủy văn quốc tế (the International Hydrographic Organization- IHO) quyết định thiết lập đại dương thứ năm, bao gồm các phần phía nam của Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

 (***Tiên tri của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đoán chính xác mọi biến chuyển của đất nước trước nay. Xin giới thiệu một sự kiện mà đến nay chưa ai biết, đó là thời gian khởi đầu và kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ:

440. Trư thử giai phong khởi

441. Thìn Mão xuất thái bình

442. Phân phân tùng bắc khởi

443. Nhiễu nhiễu xuất đông chinh.

Giải ý (từ 2 câu dưới lên):

“Nhiễu nhiễu xuất đông chinh

Phân phân tùng bắc khởi”

Cuộc chiến tranh ở Đông dương phát triển thành cuộc cạnh tranh ý thức hệ giữa 2 hệ thống TBCN và CSCN.

Cuộc chiến ấy dẫn đến nước Việt chia đôi; và Miền Bắc khởi cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam.

“Trư thử giai phong khởi

Thìn Mão xuất thái bình”.

Ngày 17/1/1960 Bến Tre đồng khởi, ngày ấy là 19/12 âm lịch năm 1959 Kỷ Hợi (Trư), tiếp theo đến năm 1960 Canh Tý (Thử) cả Miền Nam cùng đồng khởi: tức Trư thử giai phong khởi.

Ngày 30/4/75 Ất Mão giải phóng Miền Nam, trong năm ấy còn phải truy quét tàn quân đối phương, đến năm 1976 Mậu Thìn mới thật sự yên ổn: tức Thìn Mão xuất thái bình.

——————————–

Xin xem thêm bài 10 việc làm mông muội của NCQ CHNDTH cùng trong trang web nầy.

 

ỨNG BIỂN ĐÔNG

Ai biết Thiên cơ ứng Biển Đông?

Hải hồ cửu cửu huyết loan hồng

Vinh hoa mấy chốc Trung tan tác

Nhục nhã một phen Việt tấn thông

Trực đáo mã dương hương chính biến

Thời lai thân dậu thế quy đồng

Khuyển trư ngưu thử thênh thang bước

Cọp chúa lâm điền lạc cửu trường.

                       Mùa Hạ Giáp Ngọ 2014

Gửi phản hồi