Bài viết

LƯỢT TRUY CẬP

  • Đang truy cập: 2
  • Lượt truy cập hôm nay: 74
  • Lượt truy cập hôm qua: 78
  • Tất cả lượt truy cập: 69427

Thiên Nhân Cách – Địa Cách

  (Xem Tên người, cửa hiệu, bút danh, nghệ danh và Bát trạch)

======

I.- Thiên Nhân cách (*)

Sống trên Trái Đất con người và vật đều chịu 3 quy luật căn bản của Trời Đất là:

1.- Quan hệ Âm Dương tương phản: tiềm ẩn bên trong là tinh thần (dương) và thể hiện ra ngoài là thể xác (âm).

2.- Quan hệ ngũ hành là 5 chất khí kết tinh nên cả tinh thần và thể xác của vạn vật gồm: Từ – quang – nhiệt (dương khí của Trời); Thủy – khí (hơi nước và khí oxy của Đất).

3.- 5 Mối quan hệ Thiên nhân gồm:

- Vận mệnh Thiên định.

- Thiên Nhân cách qua danh xưng.

- Phương hướng nhà cửa so cung mạng của người (có chương trình riêng).

- Tuổi vợ chồng (có chương trình riêng).

- Luật Nhân quả (có chương trình riêng).

1.- Vận mệnh:

Bên cạnh Âm dương, Ngũ hành là mối quan hệ Thiên Nhân: Vạn vật tồn tại trong Vũ trụ đều hàm chứa hai yếu tố trong lòng nó như âm dương tương phản nhau vậy. Vận mệnh cũng có 2 phần là số mệnh và vận hội.   

Số mệnh: Số mệnh của mỗi người được ấn định theo năm, tháng, ngày giờ sinh mà môn Tử Vi đã nghiên cứu(*).

Những người nghiên cứu về tâm linh và vận số đều có cùng quan điểm: “Số mệnh là cố định không thể thay đổi” và xem điều đó là truyệt đối với đời người.

Không hoàn toàn vậy! Đó chỉ là một mặt tương đối của vấn đề (cố định về số mệnh), còn vận hội (tiềm ẩn trong 4 vấn đề còn lại nói trên) con người có thể điều chỉnh được. Hiểu rõ vấn đề nầy vô cùng quan trọng trong cuộc sống.  

Có thể lấy chiếc Tivi để nghiên cứu: Người số giàu sang như chiếc Tivi màu, người số nghèo khó như chiếc Tivi trắng đen, đó là Thiên định bất di bất dịch, còn các núm chỉnh tầng số, âm thanh, ánh sáng… (như 4 yếu tố còn lại nói trên của con người); Tivi màu mà không chỉnh thì cũng là màu nhưng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng không rõ khó xem, người vẫn giàu nhưng tai nạn, bịnh hoạn…, Tivi trắng đen mà có đều chỉnh thì vẫn là trắng đen nhưng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng rõ, người không giàu có lớn, nhưng đời sống vẫn yên ổn hanh thông. Đó là yếu tố quyết định trong quy hoạch cuộc nhân sinh.

———-

(*)Số mệnh: Trong mỗi con người đều hàm chứa 2 phần là thể xác và tinh thần. Bào thai trong bụng mẹ chưa phải là một người, mà nó chỉ là 1 bộ phận của cơ thể người mẹ, khi sinh ra là hài nhi có thể xác, lúc ấy đứa trẻ hít thở khí Trời thì quang điển lên não tạo nên tinh thần, đứa trẻ thành người thật thụ từ đó, và tiếng khóc chào đời là cột móc quyết định ấy (xin xem thêm bài Định luật hấp thu và chuyển hóa năng lượng) nơi link : http://caitaohoancau.com/dinh-luat-hap-thu-va-chuyen-hoa-nang-luong/

Quang điển là Thần của Trời từ Mặt Trời, Trời quản lý.

Như khi sử dụng máy vi tính tạo ra một dữ liệu nào đó ta phải đặt tên để quản lý. Trên hành tinh hiện có 9 tỷ người Thượng giới không thể đặt tên cho tất cả, do đó khi một con người sinh ra  bề trên định cho mỗi người 1 con số để quản lý, đó là nguồn gốc của từ Số mệnh.

———-

2.- Thiên Nhân cách là tổng hợp 2 yếu tố: ý nghĩa của các từ hợp thành danh xưng của người và vật (Nhân cách) cùng cách số Thiên định do bởi danh xưng ấy (Thiên cách).  

1/- Nhân cách:

Nhân cách là tính cách của nhân vật thể hiện qua tổng hợp ý nghĩa các từ vựng của danh xưng. Tự thân mỗi từ phải trong sáng về ý nghĩa, vừa phải phối hợp hài hòa giữa các từ với nhau, không trùng lấp, ngược lại sẽ bị khắc chế, nhiều khi phản nghĩa làm cho nhân cách bị xấu.

Khi đặt tên người và vật ai cũng chọn ý nghĩa tốt như Phú, Quý, Vinh, Hoa, Thông, Minh, Đức, Độ… nhưng không ai nghĩ đến điều quan trọng là sự phối hợp sát sao ấy.

Ví dụ:

- Trần Minh Quang: Quang và Minh đều là sáng. Hai loại ánh sáng khác nhau ở chung ngăn che, cạnh tranh, triệt tiêu nhau, giống như đốt đèn ngoài sân giữa ban trưa không những đèn không sáng mà còn làm ánh sáng mặt trời bị chiết giảm trong phạm vi ảnh hưởng của đèn. Người không tối, nhưng không thông thấu chiều sâu mọi việc, mà còn gặp nhiều chuyện không hài lòng trong đời; tánh tình khó khăn, ganh tỵ, không cỡi mở, thất đức, tán hậu.

- Diễm Mỹ Tú: Cả 3 từ đều có nghĩa là đẹp, đứng chung sẽ khắc chế nhau, người không xấu, nhưng nét đẹp không tuyệt đối, chúng lại canh tranh nhau, tánh tình cạnh tranh, ganh tỵ, cũng thất đức tán hậu.

- Thị Huệ, Trúc Mai, Trúc Đào, Thị Hồng, Thị Đào, Thị Hồng Đào.

Hai loại cây khác nhau ở chung ngăn che, cạnh tranh nhau. Người gặp nhiều chuyện không hài lòng trong đời; tánh tình khó khăn, ganh tỵ, không cỡi mở, thất đức, tán hậu.

Ba cây sự khó khăn rắc rối càng tăng, sự thất đức, tán hậu càng nặng hơn.

Đặc biệt là hai con chim, thú như Yến Phụng, Yến Oanh, Linh Phượng (chim chìa vôi và chim phượng), Hùng Lạc (con gấu, con lạc đà), Lạc Viên (con lạc đà, con vượn) … sự khắc chế càng nặng.

- Bùi Hữu Nghĩa: Nghĩa là ý nghĩa, đạo phải, việc nên làm, tự thân nó đã có, đâu cần phải Hữu mới là có, mà Từ điển còn có chữ: (Hữu 囿 … Hiểu biết ít. Hạn chế bởi thành kiến). Vậy Hữu Nghĩa thành ra người ít hiểu viết đạo nghĩa (bị phản nghĩa) thành ra bất nghĩa, cũng thất đức, tán hậu.

- Thái Nhi: Cây rau và cây lúa nếp, 2 loại thảo mộc không có tri thức con người, vừa cạnh tranh, tánh khó khăn thất đức.

- Thái Nhật hay Nhật Thái: Thái độ của ngựa chạy trạm, tính cách của thú chớ không phải của con người.

- Minh Tiến: Loài cỏ cho thú ăn, kém hơn cả thú.

- Nguyễn Minh Hồng: Cốt tủy phối hợp của danh xưng nầy là: (Minh giáp: Một thứ cỏ. Hồng 紅 Tên một giống cây).

Hai loại cây, cỏ khác nhau ở chung ngăn che, cạnh tranh nhau như trên. Đặc biệt Cây hồng che cỏ minh giáp, người luôn che giấu việc làm với thủ đoạn nham hiểm; nhân cách nầy là đại hung hiểm khó tránh yểu vong…

2/- Thiên cách:

Là cách số Thiên định trên cơ sở tổng số nét chữ Hán của các từ cấu thành của danh xưng.

Chữ Hán nhiều từ đồng âm dị tự, như Di có 31 chữ; Minh có 11 chữ khác nhau… Khi xem xét cần tùy mối quan hệ các từ với nhau mà chọn chữ phù hợp:

a.- Với những sự vật 1 từ, hoặc tên 1 từ và họ thì chọn những từ có nghĩa sáng đẹp nhất trong đó ghép với họ.

Ví dụ:

- Cửa hàng tên Thanh; trong 7 chữ thanh thì chữ Thanh 清 11 Trong. Trong sạch. là sáng nghĩa nhứt.

Tên người chỉ 2 từ, không có chữ lót như :

- Nguyễn Trãi  (1380–1442)

————–
Trích Từ điển:

Nguyễn  6 Họ.

Trãi 13 [zhì] (dd5e) Tên một loài thú trong thần thoại.

————–
Nguyễn Trãi  (6 + 13 = 19)

Nguyen-Trai

Thiên cáchSố 19 PHONG VÂN TUẾ NGUYỆT

Trên bước đường lập nghiệp phải vượt mọi khốn khó và được quý nhơn giúp đỡ mới đạt thành chí nguyện, có thể là phú ông, song khó tránh chết yểu cô quả, hình ngục.

Hàm ý: Người có tố chất thông minh thích hoạt động, tuy có thành công lớn, có thực lực, nhưng luôn có tai họa bất ngờ giáng xuống.

Ông theo Lê Lợi. Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Nhưng sau do Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải, đại thần Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tam tộc .
 Tuy hưởng thọ 62 tuổi nhưng bị tru di tam tộc cũng chính là yểu mạng.

Những con đường mang tên ông người khá giả nhưng dễ cô quả, yểu vong; nhất là bệnh viện, viện dưỡng lão, người yếu sức thì yểu vong là không tránh khỏi.

- Cống Quỳnh (貢 瓊 10  8 =  28).

Với số 28: Ông Cống Quỳnh là nho sinh tài ba nhưng sự “hoang tàn bạo ngược” thể hiện nhiều mặt, rõ nét nhứt là ông bảo bà Đoàn Thị Điểm mở cửa nhà tắm để ông vào “coi”, và xử sự thâm hiểm trong việc bày vẽ cho gả thợ cày cưới bà Điểm với nhiều tình tiết “hoang tàn”, và đời ông cũng vẫy đầy thống khổ thân tâm như Thiên cách xác định.

+ Các nghệ danh:

Trúc Phương (1933 – 1996)

Hoàng Nguyên (1932 – 1973)

Cẩm Nhung (1940-2013)

————–
Trúc  6 Cây trúc, cây tre. Tiếng trúc (một tiếng trong bát âm). Sách vỡ. Họ.

Phương   8 Cây phương.

Hoàng  12 Màu đất. Màu vàng. Người già. Trẻ con ba tuổi sắp xuống. Họ.

Nguyên  10 Đồng bằng. Toàn vẹn, không sai, không khác. Vốn gốc.

Hàn  12 Lạnh. Nghèo khổ. Cùng quẫn. Ít ỏi. Run. Thôi. Họ.

Mặc  16 Lặng lẽ.

Tữ  6 Chết, không hoạt động. Một hình phạt.

Cẩm  16 Gấm. Đẹp đẽ.

Nhung  12 Nhung, nỉ, dạ.

- Trúc Phương  (6 + 8 = 14)

Nhân cách: Cây trúc và cây phương, 2 loại cây khác nhau cạnh tranh che chắn nhau, người vừa khó tánh vừa bị nhiều sự ức chế trong đời.

Thiên cáchSố 14 LUÂN LẠC THIÊN NHAI

Không người giúp đỡ, gặp cảnh cô độc… khó thấy niềm vui nào mang đến, cuộc đời như đá chìm đáy nước, chịu một đời tăm tối đau buồn.

Gia đình phụ mẫu, tử tôn không nương nhờ, phần vợ chồng duyên nợ không bền, gặp cảnh chia ly.
Sau năm 1975: Ông không di tản, mà vượt biên lần đầu năm 1976 nhưng không thành công, do vậy bị tịch thu nhà. Những năm sau đó ông vượt biên thêm 2 lần nhưng vẫn không thành công. Lúc ra tù, ông sống không nhà cửa, không giấy tờ tuỳ thân. Sau 3 lần vượt biên không thành công, vợ con ly tán, ông không nhà cửa, không người thân, giấy tờ, sống lây lất khắp nơi, thậm chí phải đi chân không và mướn chiếu ngủ tại bến xe.

- Hoàng Nguyên  (12 + 10 = 22)

Nhân cách: Đất đồng bằng.

Thiên cáchSố 22 THU THẢO PHÙNG SƯƠNG

Mọi việc đều gặp sự trái ý mong muốn, như cây cỏ mùa thu ẩm ướt lại gặp sương rơi, một chuỗi ngày thê lương, bịnh hoạn, cô độc, lo lắng nhiều nỗi, cuộc đời bất hạnh.

Số của vận tranh đấu:

Thường bị bịnh kín, khó chữa, chết yểu.

Là nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh: Cả 2 tên đều xấu nên chỉ thọ 41 tuổi.

Tương tự như vậy các chữ An 安6, Bình 平 5, Quang 光 6 Đức 德 15, Huy 輝 15, Hoàng  煌 13 là sáng nghĩa nhứt trong các từ đồng âm mà ta nên chọn để xem xét.

- Cẩm Nhung (16 + 12 = 28)

Nhân cách: Nhung và gấm đẹp đẽ. Hai loại nhung, gấm đẹp khác nhau ở chung ngăn che, cạnh tranh nhau. Người gặp nhiều chuyện không hài lòng trong đời; tánh tình, khó khăn, hung dữ, ganh tỵ, không cỡi mở.

Thiên cáchSố 28 TỰ ƯU SINH LY

Số cùng con cháu hoang tàn, bạo ngược, tai họa dập dồn, chịu nhiều thống khổ thân tâm.

Ai phạm vận số nầy phải chịu tai nạn về cơ khí, hay sự hại vì những lý do như : tình sát, tai sát v.v… (chết không lành).
Được xem là vũ nữ xinh đẹp nổi tiếng nhất Sài Gòn vào thời điểm đó, và mệnh danh là "nữ hoàng vũ trường", nhưng cả ý nghĩa tên và cách số đều biểu hiện sự hoang tàn, ương bướng, quen với một viên trung tá, vợ y hăm dọa nhiều lần không được, sau cùng cuộc đánh ghen bằng tạt axit (tình sát) rùng rợn nhứt bấy giờ, hủy hoại vĩnh viễn nhan sắc người vũ nữ xinh đẹp, sau cùng đi hành khất.

Ngoài ra có những nghệ sĩ tự đổi tên đến 3 lần mới may mắn có được cách số tương đối tốt mà nổi tiếng, nhưng cũng không phải đã hoàn hảo.

b.- Với những bảng hiệu có hai từ, hoặc tên người gồm họ, tên và một hoặc hai từ lót trở lên cần phải nghiên cứu tỉ mỉ, so sánh phối hợp ý nghĩa các từ với nhau chặt chẽ.

Ví dụ:

- Cao Bá Quát, Nguyễn văn Siêu:

————–
Trích Từ điển:

Cao  10 Sùng bái. Quý trọng. Tôn kính. Lớn tuổi. Giá cao. Trên cao. Giỏi, vượt trên bậc thường. Họ.  21  Hơn người. Làm lớn. Xưng hùng. Quát  9 Bó, buộc lại. Bao gồm, bao quát.

Nguyễn  6 Họ. Văn  4 Người có học vấn. Văn vẻ, chữ nghĩa, văn chương. Lễ phép. Văn hoa. Đồng tiền. Đẹp. Vân trên gỗ. Đường lối. Quan văn. Siêu  12 Nhảy lên. Vượt qua, vượt lên. Siêu việt, tài trí hơn người.
————–
Cao Bá QuátCao 高 10 Nhân cách: Người xưng mình tài giỏi bao quát khắp cả nhân loại. (Ý nghĩa ấy ấn định bởi 3 từ Cao: Tài giỏi, Bá: Xưng hùng xưng bá, Quát: Bao quát). Ông đã từng nói: “Nhân loại có 4 bồ chữ một mình tôi giữ 2 bồ, Cao Bá Đạt anh tôi và Nguyễn Văn Siêu bạn của tôi 1 bồ, nhân loại còn lại 1 bồ”. Tính cách của nhân vật là tự cao tự đại khinh nghười, thất đức, tán hậu.

Cao Bá Quát 括高 (10 + 21 + 9 = 40).

Nhân cách: Xưng mình tài giỏi bao quát cả Thiên hạ; ông từng cao ngạo, tuyên bố: “Trong Thiên hạ có 4 bồ chữ, một mình tôi giữ hết 2 bồ. Anh tôi Cao Bá Đạt và bạn tôi Nguyễn văn Siêu giữ một bồ. Còn một bồ phân phát cho Thiên hạ”.

- Nguyễn Văn Siêu 文超 (6 + 4 + 12 = 22).

Nhân cách: Người văn chương chữ nghĩa siêu việt, tài trí hơn người.

Hai Ông đã từng được vua Tự Đức khen ngợi “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán” (không có tiền lệ ở Trung Hoa), và người đời gọi “Thần Siêu Thánh Quát”.

 Thiên cách:
Cao Bá Quát  Số 40 : CẨN THẬN BẢO AN

Số nầy có mưu trí hơn người (thường là trai tài, gái sắc), nhưng không hưởng được, vì không hợp với từng sự việc, ấy là nguyên nhân thất bại. Nếu biết ôn tồn dè dặt thì cũng phát đạt, bình an.

Hàm ý: Nhiều mưu mẹo, đảm lược, nhưng kiêu ngạo, thiếu chí lớn, dễ bị công kích, các vận khác xấu thì dễ bị tù đày, chết yểu. Nếu an phận thì bình thường.

Người mang số nầy do bản tính quá bộc trực, không chịu nổi cảnh bất bình xảy ra trước mắt. Tâm lý hay nông nổi do quá cương trực.

Cả ý nghĩa và cách số đều xác định tài giỏi hơn người, nhưng “không hưởng được”, là người thường làm việc không hợp thời nên không thành công, gặp nạn; ông tài giỏi như­ng thi hỏng (vì chữ xấu, nhưng ngư­ời ta bảo ông nói thẳng nên làm phật ý vua Minh Mạng).

Năm 1841, Cao Bá Quát đư­ợc làm hành tẩu ở Bộ Lễ đến tháng Tám làm sơ khảo trư­ờng thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi hay mà phạm huý, ông cùng một ngư­ời bạn lấy son hoà muội đèn chữa lại cho họ. Việc bại lộ, ông bị tống giam, kết tội xử chém, sau đư­ợc xét lại, bị cách chức, rồi phải đi công cán ở Indonexia.
Trở về, ông đ­ược giữ chức cũ một thời gian, rồi bị thải, 1847 chuyển vào làm ở Viện Hàn lâm, ít lâu sau bị đẩy ra làm giáo thụ Quốc Oai, và năm 1855 cầm đầu đội quân chống triều đình và ông đã ngã xuống giữa chiến trư­ờng, kết thúc cuộc đời nhà thơ trác việt của đất Thăng Long. Theo Wikipedia: “Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông. Sự thật về cái chết của Cao Bá Quát cho đến nay vẫn còn là một vấn đề nghi vấn cần làm sáng tỏ hơn”. Sách khác nói: “Ông bị bắt giải về triều và bị chém đầu. Vua Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao”.
Nguyễn văn Siêu Số 22: THU THẢO PHÙNG SƯƠNG

Mọi việc đều gặp sự trái ý mong muốn, như cây cỏ mùa thu ẩm ướt lại gặp sương rơi, một chuỗi ngày thê lương, bịnh hoạn, cô độc, lo lắng nhiều nỗi, cuộc đời bất hạnh.

Hàm ý: Vạn sự chẳng như nguyện, giữa đường đổ vỡ, thường là người bạc nhược, ý chí kém cỏi như cây cỏ mùa thu gặp sương vậy. Khổ cực yếu đuối, cô độc, luôn gặp nghịch cảnh.

Nguyễn Văn Siêu đỗ phó bảng được bổ làm chủ sự bộ lễ… nhưng năm (1851), thấy dân chúng đói khổ, vỡ đê, lụt lội, ông gửi về vua Tự Đức một sớ điều trần. Không hợp ý vua, ông bị giáng chức. Năm 1854, ông đệ sớ từ quan, rời xa cung đình Huế, về sống ở Hà Nội, dạy học và soạn sách …

————–
Hàn Mặc Tữ 寒默死  (12 + 16 + 6 = 34)

Nhân cách: Nghèo khó; cô độc, chết lặng lẽ, lạnh lẽo.

Thiên cách: Số 34 PHÁ GIA VONG THÂN

Suốt đời tai nạn chẳng dứt, gia đình ly biệt, sát hại, phát cuồng, số này phải chịu cảnh đói khổ, bần tiện.
Số của người gặp nhiều tai nạn:

Gia đình: Họ hàng lưu lạc, duyên phận bạc bẽo.

Sức khỏe: Hay bị các họa về đâm chém, đánh đập, xung huyết, bại liệt, điên cuồng.

Hàm ý: Số nầy có tượng đại hung hiểm, đại loạn ly, tai nạn liên tiếp giáng xuống. Vạn sự thất bại lắm bịnh nhiều tai, vợ chồng con cái ly tán, yểu chiết khiến phải phát điên.

Thường gặp hoạn nạn bất tữ, bệnh tật dây dưa.

Gia đình phụ mẫu, tử tôn không nương nhờ, phần vợ chồng duyên nợ không bền, gặp cảnh chia ly.
Với tên thật Nguyễn Trọng Trí tư chất thông minh lanh lợi, tài hoa, tánh tình mẫn tiệp được nhiều người quý mến, nhưng tánh bộc trực, hành sự theo cảm tính; và sau lấy bút danh Hàn Mặc Tữ thì cuộc đời đầy khổ ải như nói trên đặc biệt cả ý nghĩa bút danh và cách số đều nói lên sự yểu mệnh (ông chết ở tuổi 28) và chết lặng lẽ, lạnh lẽo trong một căn phòng hiu quạnh, mọi người thân đều xa lánh (do chứng phong nan y)!

- Huỳnh Phi Phụng (黃非鳳 12 + 8 +  8  =  28) Huỳnh Phi Phụng: Ý nghĩa (Nhân cách): Phi phụng là không phụng dưỡng cha mẹ; cùng với Thiên cách số 28 “hoang tàn bạo ngược”, ông đã xiềng người cha ở căn chòi sau hè hai năm trời, sau báo chí phanh khui, địa phương can thiệp ông mới thả người cha ra.

- Nguyễn Ngọc Sương (阮鈺箱 6 + 13  + 15 =  34) Ngọc Sương là cái thùng xe bằng kim loại rất cứng, tức chiếc xe tăng, Nhân cách nầy cùng với Thiên cách số 34 không những phá tan gia đình mình mà y thị còn quậy phá tan nát gia đình bên chồng.

- Bùi Tuấn Dũng (裴駿甬 14 + 19 + 7 = 38) Đường của con ngựa cao lớn chạy, người đứng cản đường sẽ bị nó xéo chết; y mồ côi được 2 bà dì ruột bảo bộc, nhưng chơi bời lêu lỏng, 2 bà dì rầy, y dùng dao đâm chết 1 người và còn ghi trong nhựt ký sẽ giết bà kia.

c.- Liên hệ vài sự kiện:

+ Vụ án Tân Trường Sanh: Trước là xí nghiệp Trường Sanh, sau đổi công ty Tân Trường Sanh:

- Trường Sanh  (長生 8 + 5  =  13).

Trường Sanh là sống thọ và tầng số 13 tốt: Xí nghiệp làm ăn phát đạt nhanh chóng. Sau đổi là Tân Trường Sanh:

- Tân  Trường Sanh (辛長生 7+ 8+ 5 = 20).

Trường Sanh là sống thọ thì Tân không thể là mới, mà chỉ ứng chữ Tân 辛 là cay đắng khổ sở; tức Tân Trường Sanh là kéo dài kiếp sống cay đắng khổ sở; cùng với tầng số 20 “Phi nghiệp phá vận”, công ty suy sụp đi đến phá sản và mọi người trong công ty đều bị án hình sự.

Các nhân sự có liên quan:

- Trần Đàm (塵 談 14  + 15 = 29).

Trần 塵 là bụi bậm trần ai. Đàm 談 là bàn luận; Trần Đàm là bàn chuyện bụi bậm trần ai, ông bị án tử hình vì bàn mưu tính kế chuyện bụi bậm chớ không phải do làm. Còn tầng số 29 biểu hiện ông giàu có nhưng “lòng tham không đáy, không biết đủ” để dừng lại nên bị nạn.

- Phùng Long Thất (逢攏失 11 + 19  +  5 = 35)

Nhân cách: Gặp, đón lấy cái hội thất bại (ăn hối lộ của Tân Trường Sanh) nên bị thất bại (bị tử hình) theo.

- Tăng Minh Phụng (僧瞑鳳14 + 15 + 14  =  43)

Nhân cách: Minh Phụng (瞑鳳) là con phụng tu nhắm mắt ngủ; nghĩa bóng: những tai họa kề bên mà không hay biết, và tầng số 43 dẫn đến bị tử hình là “chết xa nhà”.

+ Trong vụ án phá rừng Bình Thuận thì:

- Đinh Mạnh Hồ (丁孟胡 2 + 8+ 9 = 19)

Nhân cách: Mạnh Hồ là gắng sức làm càn. Khi bị tố cáo ông ta cậy thế lực mà đe dọa, khống chế người tố cáo để tiếp tục làm càn việc phá rừng.

Tầng số 19 khó tránh chết yểu, cô quả, hình ngục đã rõ.

- Nguyễn Tăng Thắng (người tố cáo việc phá rừng)  (阮 曾 勝  6 + 12 +  12 =  30).

Nhân cách: Đời ông làm việc gì cũng trải qua bước đầu khó khăn thất bại, cố gắng làm tiếp mới thành công: tố cáo việc phá rừng bị Đinh Mạnh Hồ đe dọa sinh mạng, và bị khai trừ  Đảng, gia đình tan nát, ông bán nhà đeo đuổi việc tố cáo (làm thêm), sau nhờ báo chí phanh khui, ông mới thắng: được phục hồi Đảng… và Thiên cách số 30: lúc thắng lúc bại…khắc vợ con… càng thể hiện rõ diễn biến vụ việc của ông.

d/- Khi Nhân cách và Thiên cách ứng hợp nhau cùng tốt thì sự tốt tăng lên, ngược lại là sự xấu sự khắc hại cũng tăng lên.

Ví dụ:

-Huỳnh Phi Phụng trong ví dụ trên: Nhân cách Không phụng dưỡng cha mẹ Thiên cách hoang tàn bạo ngược nên mới đến mức xiềng người cha như vậy.

+ Với hai ông Lưu Hữu PhướcNguyễn Hữu Phước có so sánh: Hữu Phước không ứng chữ hữu 有 có. Bởi đã phước thì không cần phải hữu mới có, mà đây  ứng chữ hữu 囿 Trời, thần phù hộ. Vậy hữu phước là Trời, thần ban phước; và Phước thì có phước trọng, phước khinh. Giữa hai người có sự ứng chiếu khác nhau như sau:

 + Lưu Hữu Phước (劉囿福 15 + 9 + 13 = 37)

Với Thiên cách số 37 tốt đẹp được Trời ban phước trọng, ông được người suy tôn, làm đến chức Bộ trưởng của chính phủ cách mạng lâm thời.

+ Nguyễn Hữu Phước (阮囿福 6 +  9 + 13  =  28)

Với Thiên cách 28 “hoang tàn bạo ngược” đi ăn cướp nên Trời thần ban phước khinh, y bị lãnh án tử hình.

e/- Những tên mà Nhân cách và Thiên cách trái ngược nhau thì có sự chi phối, có trường hợp khấu trừ nhau, có trường hợp trong ngoài bất hòa nói làm bất nhất. Ví dụ:

Võ Văn Khiêm (武文謙 7 + 4 + 17 = 28)

Hồ Văn Hiền (胡文賢 9 + 4 + 5 = 28)

 -Văn Khiêm, Văn Hiền là nói năng khiêm nhường, hiền hòa, còn Thiên cách số 28 “hoang tàn bạo ngược”, hai mặt trái ngược chi phối nhau nên người vẫn nói năng khiêm tốn, hiền hòa; chỉ có “con cháu hoang tàn bạo ngược” sẽ ứng theo ý nghĩa và Thiên cách của chúng. 

- Nguyễn Phi Anh  (阮 非英 6 + 8 + 9 = 23)

- Phan  Mạnh Phi (潘孟非 15 + 8 + 8 = 31)

Phi Anh, Mạnh Phi số 23, 31 tốt đẹp, nhưng ý nghĩa Phi Anh là không sáng sủa, Mạnh Phi là không có vận hội, nên không những không hưởng được sự tốt của Thiên cách số 23, 31 mà ngược lại đương số còn làm nhiều điều sai trái rước họa vào thân.

- Chu Nam Hoàn ( 朱男丸 6 + 7 + 3 = 16) Nam Hoàn là trứng của nam giới, tuy số 16 có giàu, nhưng chúng nhơn tôn nghinh là ở tính khí quái lạ, u muội của cái tên Nam Hoàn.

Tên mỗi người hầu hết đều có khiếm khuyết nhứt định, ít ai tốt trọn, do đó cuộc đời ít nhiều cũng có những may rủi, biến động.

Điều có ý nghĩa lớn là chương trình nầy không phải để bói toán, mà quan trọng là dùng để đặt hoặc sửa đổi tên, tạo phúc, tạo sự hanh thông cho người và việc đang có nhiều khó khăn, tai họa.

f/- Diễn biến sự thay đổi vận thế: (liên hệ sự kiện lịch sử phong trào Tây Sơn) như sau:

1/- Phong tào Tây Sơn; Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc Ánh sau đổi Quang Trung, Nguyễn Ánh:

—————-
Trích Từ điển:

Tây 西 6 Phương tây.

Sơn  3 Núi. Giữa chỗ đất phẳng có chỗ nổi cao lên. Mồ mả. Né tằm.

Nguyễn  6 Họ.

Huệ  12 Ơn huệ. Nhân từ bác ái. Thuận theo. Biếu tặng.

Phúc  Phước. Những sự tốt lành. Việc may. Rượu hay thịt để cúng tế. Giúp. Vén áo. Họ.

Ánh  9 Tia sáng của vật gì chiếu lại. Ánh sáng mặt trời khoảng l, 2 giờ trưa. Bóng rợp.

Quang  6 Ánh sáng. Sáng láng. Trơn bóng. Vẻ vang, rực rỡ. Rộng lớn. Tróng trơn. Hết sạch. Họ.

Trung  4 Ở giữa. Ngay thẳng. Nửa thân mình. Thành công. Họ.

—————-
+ Tây Sơn 西山 (6 + 3 = 9).

Thiên cáchSố 9 HUNG TẬN CHUNG THỦY

Số nầy trước tốt sau xấu, nếu phạm phải thì gánh lấy tai ương, gặp toàn bất hạnh. Với các tầng số trên trước tốt: thắng giòn giã, sau tan rã cũng nhanh chóng.

- Nguyễn Huệ  (6 + 12 = 18 ).

NguyenHue

Nhân cáchSố 18 Ý CHÍ CÁNH THÀNH

Với ý chí kiên cố, năng bài trừ mọi chướng ngại, khắc phục mọi khó khăn để đạt thành mục đích, nhất định thành công.
- Nguyễn Phúc Ánh  (6 + 13 +  9 = 28).

Nguyễn Ánh

Thiên cáchSố 28 TỰ ƯU SINH LY

Số cùng con cháu hoang tàn, bạo ngược, tai họa dập dồn, chịu nhiều thống khổ thân tâm.

Sau cùng: Nguyễn Huệ lên ngôi lấy niên hiệu Quang Trung; và Nguyễn Phúc Ánh cũng đổi lại là Nguyễn Ánh với tầng số:

- Quang  Trung (6 + 4 = 10).

Thiên cách: Số 10 VẠN SỰ CHUNG CUỘC

Một chuỗi đời ảm đạm, khó tìm một ánh sáng quang minh. Thật là vận số tận cùng, tứ cố vô thân, gởi xương nơi đất khách.
- Nguyễn Ánh  (6 + 9 = 15 ).

Thiên cáchSố 15 PHƯỚC THỌ CỦNG CHIẾU

Được người trên bước nâng đỡ, nên thân thế thành đại sự nghiệp, nắm lấy sự thành công phú quí vinh đạt, số nầy ít có người được như vậy.

Sau khi đổi danh hiệu cục diện hai bên đảo ngược lại, đặc biệt là với nội dung “Gởi xương nơi đất khách” của Vua Quang Trung ứng nghiệm bởi sự “Hoang tàn bạo ngược” của Nguyễn Phúc Ánh là lấy xương của Vua Quang Trung bỏ vào ống đồng bắn ra biển.

Đổi tên không phải cải số, mà là sự điều chỉnh tầng số, giống như rà đài, chỉnh volume radio hay tivi vậy, người có số giàu sang mà không chỉnh sửa cũng giàu nhưng bịnh hoạn tai nạn, người số nghèo mà điều chỉnh thì tuy nghèo nhưng luôn an ổn, cũng sung túc được.

g/- Chúng tôi đã làm:

Chúng tôi đã từng đổi tạo nhiều sự tốt đẹp cho nhiều gia đình, xin nêu vài trường hợp:

-Đinh Chí Hảo đổi lại Đinh Hoàn Hảo

-Vi Trúc Thi đổi lại Vi Lục Thi

————–
Trích Từ điển:

Đinh  2  Chữ  thứ  tư trong hàng can. Người đến tuổi thành niên. Khuyên răn. Dặn dò. Đang. Họ.

Chí  6 Đến. Rất. To lớn.

Hảo  6 Tốt,  đẹp, hay. Rất. Xong.

Hoàn  7 Hoàn toàn. Xong. Trọn vẹn. Bền chặt. Đầy đủ. Nộp (nạp). Giữ gìn. Tốt đẹp. Họ.

Vi  13 Hèn mọn, nhỏ nhen. Tinh diệu. Suy. Kín. Mầu nhiệm. Không, không phải. Số nhỏ nhất. Ẩn giấu.  Họ.

Trúc  16 Xây đắp. Nhà ở.

Thi  9 Thây người chết.

Lục  22 Sách vỡ. Giấy tờ.

Thi  13 Thi thơ. Kinh thi. Nâng. Cầm.

————–
- Đinh Chí Hảo (2 + 6 + 6  = 14).

Thiên cáchSố 14 LUÂN LẠC THIÊN NHAI

Không người giúp đỡ, gặp cảnh cô độc… khó thấy niềm vui nào mang đến, cuộc đời như đá chìm đáy nước, chịu một đời tăm tối đau buồn.

Sức khỏe: Nam nữ đều là người tai họa, dễ bị cảm mạo, phong tà.

Cháu bé khoảng 1, 2 tuổi suy dinh dưỡng khó thể nuôi.

Đổi lại:

- Đinh Hoàn Hảo (2 + 7 + 6  = 15).  

Thiên cáchSố 15 PHƯỚC THỌ CỦNG CHIẾU

Được người trên bước nâng đỡ, nên thân thế thành đại sự nghiệp, nắm lấy sự thành công phú quí vinh đạt, số nầy ít có người được như vậy.

Sau đổi tên 1 tháng cháu mạnh khỏe, cả gia đình đều phấn khởi.

- Vi Trúc Thi  (13 + 16 + 9  = 38).   

Ý nghĩa: Xây nhà mồ cho xác chết nhỏ nhỏ; 11 tuổi mà cháu 3 lần nói với mẹ “nằm mơ thấy dưới âm phủ biểu con: mầy đừng về trên ấy nữa, tao đã xếp chỗ nằm cho mầy rồi”.

Thiên cách:Số 38 Ý CHÍ – BẤT  THÀNH:

Đừng mong gặp thành công lớn vì không đủ năng lực đi đến đích. Đặc biệt số này được thành tựu về văn chương, sách báo.
Sức khỏe: Không tốt lắm, dễ bị bịnh phổi, tim.

Lại thêm nhà khai môn (cửa cái) phạm sao Thiếu vong (thiếu niên chết yểu); cháu bé biếng ăn, gầy còm, không còn đi học được.

- Đổi lại: Vi Lục Thi  (13 + 22 + 13 =  48).

Ý nghĩa: Sách kinh thi vi diệu.

Thiên cáchSố 48 HỮU ĐỨC CỰU TRÍ

Đáng làm vị cố vấn. Đáng thọ lãnh cao chức, giàu sang oai vọng vinh đạt ở hàng cao phẩm trong loài người.
Sức khỏe: Khá tốt.

Hàm ý: Người có tài, mưu lược, đức độ, hợp với cách của người làm quân sư, cố vấn, thầy giáo, bác sĩ.

Sau đổi tên và dời cửa cháu mạnh khoẻ, học luôn giỏi nhứt lớp.

h/- Sau khi tìm được những chữ có nghĩa tương ứng nhau lại phải so sánh tiếp tìm xem còn có những cặp từ đồng thanh nào nữa không, để đối chiếu chọn những từ tương ứng sáng nghĩa nhứt.

Ví dụ các từ:  Thị, Mai, Dung, Trúc ghép nhau thì:

- Thị 柿 Cây thị; Trúc 竹 Cây trúc, cây tre. Mai 梅 Cây bông mai, cây mơ. Dung 蓉 Cây phù dung (các loại cây).

- Thị Trúc 柿竹 là cây thị và cây trúc.

- Trúc Mai 竹梅 là:  Cây trúc và cây mai.

- Thị Mai có 2 trường hợp:

- Cây thị, cây mai. Nhưng Thị Mai có chữ mai khác là: Mai 玫 Từng cái một. Quả. Gốc cây. Vậy Thị Mai 柿 玫 là trái thị sáng nghĩa hơn mà ta cần chọn để luận.

Còn Thị Dung có các cặp từ tương ứng nhau như:

- Thị 柿 Cây thị; Dung 蓉 Cây phù dung; Thị Dung 柿蓉 (hai loại cây).

- Thị 市 Thành thị, chợ; Dung 墉 Bức tường cao; Thị Dung市墉 Bức tường cao ở chợ.

- Thị 侍 Hầu, kẻ hầu, Dung 慵 Nhớn nhác, lười biếng; Thị Dung 侍慵 Kẻ hầu lười biếng.

- Thị 氏 Tiếng đàn bà tự xưng mình. Họ; Dung 容 Bao dung. Hình dạng của người; Trong đó Thị Dung 氏容 dung nhan người con gái, người đàn bà bao dung, độ lượng sáng nghĩa hơn cả mà ta nên chọn. 

k/- Ngoài ra còn có những trường hợp đặc biệt khá phức tạp như:

- Nhiều họ đồng âm dị tự.

Ví dụ: Trần có hai họ: Trần 陳 Trần tình. Họ; Trần 塵 Cõi trần, bụi bậm trần ai. Họ. Trần thường là gắn với trần tình, sự sáng suốt, văn chương hơn nên thường dùng họ Trần 陳. Còn những tên có nội dung bụi bậm trần gian mới dùng chữ Trần 塵.

- Cùng một tên người nhưng ghép với họ nầy thì từ nầy mà ghép với họ khác thì từ  đồng âm ấy mà dị tự  (chữ khác).

Ví dụ:

Thông thường dùng chữ 士 Học trò. Người có học, như  Nguyễn Văn Sĩ, Trần Văn Sĩ… Còn Lê Văn Sĩ thì dùng chữ  仕 Công việc làm. Bởi nó ứng với chữ 黎 Đen. Dân chúng. Họ. Lê Văn Sĩ 黎文仕 Ý nghĩa: Làm nghĩa vụ của công dân.

- Lại có khi chữ không phải là họ nhưng được ứng là họ thay cho họ. Ví dụ: Châu Ngọc Anh; trong 12 chữ châu chỉ có chữ Châu 朱 Sắc đỏ. Họ: Là họ nhưng trường hợp nầy không ứng, mà ứng với chữ Châu 珠 Ngọc trai. Vật giống như ngọc trai. Châu Ngọc Anh 珠玊英 Ý nghĩa: Viên ngọc trai sáng.

m/- Để tạo sự tốt đẹp về tính cách của nhân vật, trong quy hoạch cần chú ý thêm mấy vấn đề quan trọng sau:

Trước hết chọn tên người và sự vật phải sáng rõ: Nên lấy các từ có ý nghĩa về đức độ, tính cách, sự thông minh, u nhuần, sự hiền diệu, thanh cao…. Ví dụ các từ quang, minh, đức, hiền, lương, tâm, trí, huệ… để đặt tên, không nên dùng những từ về tiền của, vàng ngọc hay sự phú quý… bởi các tên ấy nếu Thiên cách tốt thì giàu nhưng người chỉ biết có vật chất, không trọng nghĩa nhân. Càng không nên vì con khó nuôi mà đặt tên xấu sẽ ảnh hưởng xấu đối với tính cách và vận hội của chúng.

Chú ý: Các từ Văn, Thị, Hữu nhiều người thường dùng nếu không phối hợp chặt chẽ sẽ bị khắc chế.

Ví dụ:

+ Chữ Văn 文 Người có học vấn. Văn vẻ, chữ nghĩa là thông dụng; nhưng nếu dùng các từ Văn Giáo, Văn Học, Văn Huấn, Văn Quang, Văn Huy, Văn Thạnh, Văn Thịnh, Văn Tri, Văn Trí, Văn Thức, Văn Triết (những từ về sự sáng sủa, học vấn, tri thức…) thì sẽ ứng chữ Văn 聞 Nghe. Hiểu biết. Họ. Biểu hiện người thông minh, sáng dạ, học giỏi, nghe là hiểu biết ngay, nhưng ngược lại không nghe, không chịu nghe thì không biết, ngay cả những việc thông thường, đặc biệt là những người nầy thường không chịu nghe nên không biết, không tin Trời Phật là một khiếm khuyết lớn.

+ Chữ Thị 氏 Tiếng đàn bà tự xưng mình là thông dụng, nhưng những từ Thị Tài, Thị Ngọc, Thị Châu, Thị Trâm, Thị Hoa, Thị Kim, Thị Thuý, Thị Lan, Thị Xuyến sẽ ứng với chữ Thị 恃 Cậy, ỷ lại. Nhân cách: Người thường cậy thế hoặc cậy giàu mà vu khống, hiếp đáp, khinh rẻ người khác, thất đức, dễ bị nạn về hậu.

+ Từ Hữu 有 Có. Đầy đủ là thông dụng; nhưng những từ Hữu Chánh, Hữu Chính, Hữu Luân, Hữu Lý, Hữu Nghĩa, Hữu Đạo… sẽ ứng với chữ Hữu 囿 Hiểu biết ít. Hạn chế bởi thành kiến. Chữ hữu sẽ bị phản nghĩa (ít hiểu biết lĩnh vực đó) người trở thành bất chánh, vô nghĩa, vô đạo.

 n/-Trường hợp tên người, vật là chữ Việt:

Tiếng Việt, chữ Việt hoàn hảo về mọi phương diện, chắt lọc được cái tinh túy của cả hai nền văn hóa Á – Âu, khi đầu tư tu chỉnh đúng mức tiếng Việt và chữ Việt sẽ phát huy được đầy đủ những đặc điểm độc đáo của nền văn hóa nhân loại, hội đủ điều kiện để để đóng vai trò trung tâm giao lưu văn hóa toàn cầu, xứng đáng được chọn làm tiếng nói, chữ viết chung cho nhân loại.

Song song đó thì chữ Hán cũng đáng quảng bá rộng rãi, truyền lưu mãi mãi. Chữ Hán vừa sâu rộng về nội dung, đồng thời chữ Hán phiên âm Việt đặt danh hiệu cho người và sự vật còn là Thiên cách, nền tảng ứng chiếu của đấng thiêng liêng tạo ra Thiên cách định hình nên cho sự vận động phát triển của vạn sự, vạn vật trên hành tinh.

Trong khi đó chữ Việt cũng có nhược điểm:

- Tất cả họ đều là chữ Hán, tên chữ Việt là nửa nạc nửa mỡ, tánh không thuần khiết.

- Tên chữ Việt là không có gốc thiếu chiều sâu tri thức. Ví dụ: Dưỡng và Nuôi thì Dưỡng chữ Hán, mẹ ăn dưỡng thai trong bụng được; còn nuôi chỉ sanh ra mới nuôi chớ không biết nuôi từ trong bụng.

- Tên chữ Việt kém năng động nhạy bén, như thạch trong núi có sự sống  có sự vận động phát triển, còn đá khai thác trải đường là vật chết.

- Tên chữ Việt tán hậu, ví dụ hoa trong tự nhiên có định kỳ tồn tại, còn bông cắt vào chưng chỉ 1, 2 ngày là héo.

Do vậy để giữ gìn, bảo vệ sự trong sáng của tiếng nói, chữ viết Dân tộc thì trong giao lưu văn hóa phải dùng tiếng Việt, chữ Việt, còn đặt tên người và danh hiệu cơ quan, công ty… phải dùng chữ Hán; phải chọn từ thật kỹ, so sánh đối chiếu chặt chẽ, không thể giản đơn, bởi chỉ một sơ hở nhỏ là sẽ làm sai cả.

Sự ứng chiếu của tạo hóa đối với danh hiệu là vi diệu, người có đức tin và lòng thành thì sau đổi tên sẽ có ứng nghiệm, mà trước hết là về mặt tinh thần, các mặt khác sẽ lần hồi đến.

p/- Những con số:

Chữ số cũng có Thiên cách của nó. Theo Kinh dịch thì số lẻ là dương: “1,3,5,7,9 dương số”, số chẵn “2,4,6,8,10 âm số” (73 D); Âm căn là số 2 số 4, Dương căn là số 1, 3. Các số dương tán ra ngoài tức các số 7, 9, các số âm ở bên trong, các số 2, 4 (dương bọc âm). Dương tán tra ngoài ra cái triệu chứng của sự phân tán. Âm bọc bên ngoài (âm bọc dương) các số 6,8; dương tụ vào trong các số 1, 3. Dương tụ vào trong là cái triệu chứng quy tâm (73 D).  

Vậy Các số tốt là:     1, 3, 5, 6, 8

       Các số xấu là: 2, 4,  7, 9, 10.

Cách chọn số điện thoại, số nhà, số xe… tốt:

Cộng các con số lại, nếu kết quả là 2 con số thì cộng tiếp đến khi còn 1 con số đem so bảng trên:

Riêng số 10 là dạng đặc biệt có 2 trường hợp dùng như sau:

-Số 10 trong tự nhiên là chí cực âm thì giữ nguyên như Nguyễn Văn Mười, ấp 10 … thì giữ nguyên số 10 để tính.

-Trường hợp nhiều số cộng lại bằng 10 như 6+4=10, 3+7=10 thì tiếp tục cộng 1+0=1 chớ không giữ nguyên số 10. 

Việc xem xét tên người vật như trên đều là dùng chữ Hán kết hợp cùng tài liệu Thiên Nhân cách nầy.

Khi đặt tên trẻ mới sanh: Sau khi chọn từ có Nhân cách, Thiên cách tốt, tiến hành theo thủ tục xưa nay là xong.

Riêng việc đổi tên thì Kinh dịch nói “Ta có thể dùng quy ước với thần minh của mình”; sau chọn tên mới, dùng giờ dương (từ 4 đến 12 giờ sáng) trong một ngày tốt, tắm rửa thay đồ sạch sẽ, đứng cửa nhà váy: Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng, Thần hoàng xin đổi, không cúng cũng được; đặc biệt không nên cúng mặn; bởi Trời Phật chỉ cần đức tin, không cần sự cúng lạy.

Ý nghĩa, cách số (Thiên Nhân cách) không chỉ ứng dụng vào danh xưng của người hay doanh nghiệp… mà còn có ứng nghiệm cao sâu với mọi lĩnh vực hoạt động Kinh tế, Chính trị, Xã hội; cả đến tên nước, tên các tổ chức Quốc tế; xin xem thêm bài " 981 số định mệnh…" nơi link:  http://caitaohoancau.com/981-so-dinh-menh-cua-nha-cam-quyen-cong-hoa-nhan-dan-trung-hoa/

III.- Xem Địa lý Bát trạch (phong thuỷ):

Vấn đề nầy mọi người đều đã biết, nhưng cái mới của chương trình nầy không chỉ đi sâu hướng dẫn sát sao việc sửa chữa những khiếm khuyết mà hầu như mọi căn nhà đều có, giải quyết, xử lý theo hoàn cảnh cụ thể của từng người; và thâm thúy hơn nữa là sự phối hợp giữa phong thủy và xem Nhân cách, Thiên cách của danh xưng của người, doanh nghiệp…, bởi nếu tách rời như trước nay thì không thể toàn diện được. Ví dụ:

1)- Phong thủy không kết hợp tên doanh nghiệp; như công ty Trường Sanh:

————- 

Trích Từ điển:

Trường 長 8 Dài, lâu dài. Giỏi, tài. Tốt.

Sanh 生 5 Sống. Sinh sống.

Tân 辛 7 Chữ thứ tám trong hàng can. Cay đắng khổ sở. Buồn rầu. Đau đớn.

————- 

Trường Sanh (長生  8 + 5 = 13).

Thiên cách: Số 13 TRÍ LƯỢC SIÊU QUẦN

Có trí mưu lược, bền sức chịu đựng để lấy sự thành công, phải hưởng sự phú quí vinh hoa, hảo vận đáng mong cầu vậy.

Công ty làm ăn thịnh vượng tột đỉnh, sau đổi lại Tân Trường Sanh:

Trường Sanh là sống thọ, thì Tân không thể là mới, mà là Kéo dài kiếp sống khô ải.

Tân Trường Sanh (辛長生 8 + 5 + 7 = 20).

Thiên cách: Số 20 PHI NGHIỆP PHÁ VẬN

Một đời chỉ thấy toàn đổ vỡ, trái ý, gặp nhiều khó khăn không thể nào tả xiết.

Số biểu thị sự thất bại.

Tuy khi xây dựng công ty có “Thầy Phong thủy” chỉ dẫn kỹ, nhưng từ cái tên tốt đổi sang tên xấu công ty phá sản nhanh chóng.

Batquai

2)- Tên người dù tốt hay xấu mà không kết hợp phong thủy thì sự rủi khó tránh khỏi. Ví dụ: Một cơ quan nọ đang làm việc bình thường chỉ dời cổng sang cung Bại tuyệt mà trong 1 năm 2 người thủ trưởng làn lượt chết, các vị phó cũng bị bịnh tê liệt không còn làm việc được, phải dời cửa trở về cũ mới làm việc trở lại được.

———-

Trích sách: “Bại tuyệt chi phương bất khả tu. Tu chi lệch lạc bất kham sầu. …Thử vị an môn phá bại gia tài. Tào hoàng bạo tốt (chết ngang), tự ải, lạc thủy, phong hỏa, thủy ách bất lợi”.

———-

Với ý nghĩa ấy, Quý vị nào tin và cần cứ gởi mail cho chúng tôi với nội dung:

a)- Cần xem, đổi tên thì ghi rõ Họ Tên mọi người, bút danh, nghệ danh và tên cửa hiệu (chữ có dấu).

b)- Cần xem nhà cửa thì vẽ sơ bộ căn nhà (có kích thước cụ thể) chúng tôi sẽ hướng dẫn cách đo phương hướng.

Mọi mail gởi đến chúng tôi sẽ gởi phản hồi đầy đủ nội dung mà không cần gởi tiền trước; sau khi nhận được phản hồi quý vị nào có hảo ý gởi một ít tiền vào tài khoản (có ghi rõ phía dưới các nội dung hướng dẫn) để chúng tôi có kinh phí sinh hoạt, duy trì hoạt động và lo việc chung, bà con nào vì nghèo hoặc lý do nào đó mà không gởi tiền thì chúng tôi cũng hoan hỷ, bởi đấy cũng là nội dung từ thiện, bù lại chúng tôi sẽ hưởng được phúc thiêng liêng.

———————————     

(*) Quyển sách Thiên Nhân cách (bài viết riêng cùng trang web nầy) tuy nhỏ nhưng là bảo vật của nhân loại, sách biên soạn trên cơ sở hợp nhứt nội dung hai tài liệu đã từng đưa một dân tộc bị tàn phá nặng nề trong thế chiến thứ hai vươn lên hùng cường trên hành tinh.

Được hai nhà sư trao cho từ nước ngoài chuyển tặng, hai tài liệu cùng nội dung mà hai cách dẫn giải: một quyển giải thích ngắn gọn, cô đọng (quyển 1), một quyển dẫn giải tỷ mỷ từng chi tiết về tính cách và vận thế của nhân vật (quyển 2); cảm nhận được ý nghĩa cao sâu của hai tài liệu, tác giả gộp hai tài liệu lại thành một theo nguyên tắc giữ nguyên văn tự các bản gốc, trong đó quyển 1 xếp bên trên và ký bằng chữ đứng, quyển 2 xếp bên dưới, chữ nghiêng, và đặt tên là Thiên Nhân cách (gọi tắt là Cẩm nang).

Chúng ta vô cùng biết ơn các bậc tiền bối đã dày công biên soạn để lại tài liệu quý nầy, cùng những tác giả của những quyển Hán Việt Từ điển làm nền tảng cho việc nghiên cứu, ứng dụng nội dung quyển sách; nhưng mặt khác các quyển từ điển hiện có không đồng nhứt nhau về nhiều mặt, chỉ quyển Hán Việt Từ điển của Nguyễn Văn Khôn chuẩn về số nét nhưng cũng có một vài khiếm khuyết khác. Ngoài ra không thể dùng Từ điển khác như của Thiều Chữu, Đào Duy Anh, Trần Văn Chánh…, và bất cứ sách nào khác do việc định số nét các chữ không chuẩn.

Để tiện lợi, chặt chẽ và đồng bộ trong nghiên cứu ứng dụng, Chúng tôi đã dày công biên soạn bộ Hán Việt Từ Điển Hợp Thái đưa chính xác số nét vào mỗi chữ tiện lợi cho việc xem; kèm theo cùng quyển Thiên Nhân cách phục vụ việc xem, đổi hoặc đặt tên mới cho người và vạn sự vạn vật làm sáng đẹp vận thế.

Hiện việc đưa Hán Việt Từ điển vào web còn có nhiều vướng mắc về kỹ thuật, và hiện chưa có điều kiện phát hành, xin hẹn cống hiến đầy đủ cùng đọc giả thời gian không xa.

(**) Số mệnh: Trong mỗi con người đều hàm chứa 2 phần là thể xác và tinh thần. Bào thai trong bụng mẹ chưa phải là một người, mà nó chỉ là 1 bộ phận của cơ thể người mẹ, khi sinh ra là hài nhi có thể xác, lúc ấy đứa trẻ hít thở khí Trời thì quang từ (điển) lên não tạo nên tinh thần, đứa trẻ thành người thật thụ từ đó, và tiếng khóc chào đời là cột móc quyết định ấy (xin xem thêm bài Định luật hấp thu và chuyển hóa năng lượng) nơi link : http://caitaohoancau.com/dinh-luat-hap-thu-va-chuyen-hoa-nang-luong/ (phần 3b Đối với cơ thể sống).

Quang điển là Thần của Trời từ Mặt Trời, Trời quản lý.

Khi sử dụng máy vi tính tạo ra một dữ liệu nào đó ta phải đặt tên để quản lý. Trên hành tinh hiện có 9 tỷ người thượng giới không thể đặt tên cho tất cả, do đó khi một con người sinh ra bề trên định cho mỗi con người 1 con số để quản lý, đó là nguồn gốc của từ Số mệnh.

Liên hệ: Email: anh.nguyen683@gmail.com

Có 2 phản hồi tại “Thiên Nhân Cách – Địa Cách”

  1. Hoàng Thị Khánh Linh nói:

    Em là một độc giả trung thành của trang web , em cảm thấy trang web cung cấp nhiều thông tin bổ ích và khá thú vị với bản thân e cũng như nbững ng cùng sở thích quan điểm, em hi vọng trang web sẽ phát triển hơn nữa và đưa cái hòan mỹ đến với tất cả mọi người. Bản thân em là người yêu thích văn thơ, thích làm thơ, thích các hoạt động nghệ thuật , các nét đẹp văn hóa xưa như câu đối, chữ thư pháp .. luôn muốn sống cs thanh cao ,tốt đẹp không tư lợi, khi biết đến trang này, em đã rất vui khi đọc đuợc những thông tin mà mình cần tìm, nay e muốn nhắn tin nhờ xem gíup e với tên của e là Hoàng Thị Khánh Linh sn 27.5.1994 thì tên em nói lên điều gì, và e nên dùng nghệ danh gì khi hoạt động nghệ thuật ? E chờ tin của admin. E zin chân thành cảm ơn

    • admin nói:

      Hoàng Thị Khánh Linh (黃氏慶伶 12+4+15+7= 38)

         Ý nghĩa: Người vui tươi lanh lợi.

      Số 38 : Ý CHÍ – BẤT  THÀNH

      Đừng mong gặp thành công lớn vì không đủ năng lực đi đến đích. Đặc biệt số này được thành tựu về văn chương, sách báo, nhưng dễ bị bịnh phổi, tim.

      ĐỔI LẠI:

      Hoàng Nhã Linh (黃雅伶 12+12+7=31) 

      Ý nghĩa: Người thanh nhã, rất lanh lợi.

      Số 31: TRÍ DÕNG ĐẮC CHÍ

      Có sự kiên cố trong mọi ý chí, năng xông pha mọi thử thách, làm nên danh dự vĩ đại cho sự nghiệp, truyền đắc danh lợi, phú quý, có tài năng chỉ huy, nhiều đức độ sung vinh.

      Ngày 11/9 AL 9g10’. Vái Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng, Thần hoàng để đổi sẽ ứng nghiệm. Quan trọng là phải tin và nhớ tên mới đổi mới ứng nghiuệm.

      Nghệ Danh có thể lấy các tên:

      Thanh Tâm (清心 11 + 4  =  15)

      Số 15 : PHƯỚC THỌ CỦNG CHIẾU

      Được người trên bước nâng đỡ, nên thân thế thành đại sự nghiệp, nắm lấy sự thành công phú quí vinh đạt, số nầy ít có người được như vậy.

      Quý Hương (貴鄉 12 + 12  =  24).

      Số 24 : GIA MÔN DƯ KHÁNH

      Có tài năng trong lãnh vực tham mưu, phát minh mọi sáng kiến, làm nên sự nghiệp hiển vinh cho con cháu, thật là điều hỷ khánh kiết tường vậy.

      Tuy nhiên gởi Mail tôi sẽ trả lời chi tiết sâu hơn.

      Email: anh.nguyen683@gmail.com

Gửi phản hồi